DMCA.com Protection Status

Nghị Định Về Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Tư Pháp

Ngày 24/9/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Một trong những điểm mới của Nghị định 110/2013/NĐ-CP là việc xác định rõ các tổ chức, cá nhân là đối tượng bị xử phạt của Nghị định. Bao gồm:

 Những tổ chức thuộc đối tượng bị xử phạt của Nghị định quy định trong từng lĩnh vực, cụ thể:

           Một là, trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, các tổ chức là đối tượng bị xử phạt bao gồm: các tổ chức hành nghề công chứng; tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam; trung tâm tư vấn pháp luật; văn phòng giám định tư pháp; tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp; trung tâm trọng tài, tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam;

           Hai là, trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, các tổ chức là đối tượng bị xử phạt bao gồm: trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; văn phòng con nuôi nước ngoài; tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; cơ quan Trung ương của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đơn vị trực thuộc của các tổ chức này thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật với cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ nước ngoài;

           Ba là, trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức là đối tượng bị xử phạt chính là các doanh nghiệp, hợp tác xã tiến hành thủ tục phá sản.

            Đồng thời, Nghị định cũng quy định: cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao và các tổ chức khác không phải là cơ quan nhà nước vi phạm hành chính cũng là đối tượng bị xử phạt của Nghị định.

Đối với các cá nhân, Nghị định quy định theo hướng về nguyên tắc cá nhân vi phạm hành chính sẽ bị xử phạt nhưng nếu cá nhân là công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và hành vi đó thuộc công vụ, nhiệm vụ được giao thì không bị xử phạt, mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã bổ sung thêm 14 loại hành vi vi phạm hành chính mới trong lĩnh vực công chứng, chẳng hạn như hành vi: xác nhận không đúng thời gian công tác pháp luật, thời gian và kết quả tập sự hành nghề công chứng để đề nghị bổ nhiệm công chứng viên (Điểm c Khoản 2 Điều 11); lời chứng của công chứng viên trong văn bản công chứng không đầy đủ nội dung theo quy định của Luật Công chứng (Điểm đ Khoản 2 Điều 14)… Đặc biệt, trước dư luận thời gian vừa qua phản ánh có hiện tượng “công chứng khống” các hợp đồng, giao dịch, mặc dù chưa có quy định của pháp luật chuyên ngành giải thích về thuật ngữ “công chứng khống” nhưng căn cứ vào quy định của Luật công chứng và pháp luật có liên quan, Nghị định đã cụ thể hóa và quy định xử phạt đối với hành vi công chứng trước vào hợp đồng, giao dịch khi chưa xác định đầy đủ các bên chủ thể của hợp đồng giao dịch đó (Khoản 6 Điều 14);

Đối với hoạt động bán đấu giá tài sản, khắc phục kẽ hở trong xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 60/2009/NĐ-CP là còn bỏ lọt một số hành vi vi phạm pháp luật về bán đấu giá tài sản và đã xảy ra trên thực tế ở nhiều địa phương nhưng chưa được điều chỉnh, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP đã bổ sung thêm 13 nhóm hành vi vi phạm mới, trong đó có những hành vi qua tổng kết cho thấy khá bức xúc trong thực tế nhưng không có chế tài xử phạt như hành vi: không lập biên bản hoặc ghi biên bản không đầy đủ chi tiết diễn biến của phiên đấu giá; không ghi kết quả cuộc bán đấu giá vào sổ đăng ký bán đấu giá tài sản (Điểm b Khoản 2 Điều 19); lập danh sách khống về người đăng ký mua tài sản bán đấu giá, lập hồ sơ khống, lập hồ sơ sai sự thật; thông đồng, dìm giá trong hoạt động bán đấu giá tài sản (Điểm a và Điểm b Khoản 7 Điều 19);...

Đối với hoạt động luật sư, Nghị định đã bổ sung thêm 12 loại hành vi như hành vi: làm giả chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư, giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam, giấy chứng nhận về việc tham gia tố tụng, giấy chứng nhận người bào chữa; mạo danh luật sư để hành nghề luật sư dưới bất kỳ hình thức nào (Điểm a và Điểm bKhoản 5 Điều 6); hay hành vi vi phạm quy định về tổ chức hành nghề luật sư như: phân công luật sư hướng dẫn tập sự hành nghề luật sư quá số người theo quy định của pháp luật; (Điểm b Khoản 2 Điều 7)...

Đối với các vi phạm trong lĩnh vực này, luật sư có thể bị tước chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam trong thời gian 6-12 tháng nếu có các hành vi: Cố ý cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo trái pháp luật; móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức khác để làm trái quy định pháp luật; cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng một vụ việc; tiết lộ thông tin về vụ việc, khách hàng mà chưa được sự đồng ý của họ...; Luật sư cũng có thể bị phạt tiền lên đến 20-30 triệu đồng đối với các hành vi: Cố ý trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước; sách nhiễu, lừa dối khách hàng, nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích vật chất nào khác ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận. Mức phạt này cũng được áp dụng đối với hành vi mạo danh luật sư để hành nghề luật sư.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 11/11/2013.